Tổ chức chính trị của Anh ở 13 nước thuộc địa

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015


     Về tổ chức chính trị, chính quyền Anh đã chia các thuộc địa thành hai loại: Loại thứ nhất gồm 5 bang, được hưởng quyền tự trị rộng rãi và loại thứ hai gồm 8 bang, do chính phủ Anh cử người cai trị trực tiếp.

Tổ chức chính trị của Anh ở 13 nước thuộc địa

     Loại thứ nhất gồm 5 bang: Mêrilan (Marylan), Đơlaoa (Delaware), Penxinvania (Pennsylvania), Connếchticơt (Connecticut) và Rôđơ Aixlan (Rhode Island) – Đây là những thuộc địa do nhà vua nhượng chọ một hay nhiêu địa chủ, hay được hưởng đặc quyến theo một hiến chương.
     Loại thứ hai gồm 8 bang còn lại – Niu Hămsai (New Hampshire), Maxasuxơt (Masachussetts), Viếcginia (Virginia), Carôlina Bắc (North Carolina), Carolina Nam (South Carolina), Niu Giơsi (New Jersey), Gioócgia (Georgia) và Niu Oóc (New York).
     Tất cả 13 thuộc địa đều phải tuân theo luật pháp của nước Anh. Quyền hành tối cao ở trong tay Toàn quyền đại diện chính phủ Anh. Ở mỗi bang, Thống đốc nắm quyền chỉ huy quân đội, hải quân, chọn nhân viên hành chính… Chỉ có đại địa chủ và đại thương nhân mới có quyền bầu cử, số cử tri chỉ chiếm từ 2 đến 9% dân số. Người Indian, nô lệ da đen và nô lệ da trắng đều không có quyền công dân; quyền chính trị của thợ thủ công, công nhân, trại chủ cũng rất hạn chế.
     Ngay từ cuối thế kỉ XVII, giai cấp thống trị chính quốc đã coi 13 thuộc địa Bắc Mĩ là một nguồn cung cấp dồi dào nguyên nhiên liệu, thị trường tiêu thụ cho nền công nghiệp Anh đang phát triển. Bởi vây, chúng tìm mọi cách để lệ thuộc nền kinh tế các thuộc địa vào nền kinh tế chính quốc. Nhưng đến giữa thế ki XVIII, sự phát triển kinh tế của thuộc địa lại trở thành mối đe doạ đối với Anh. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của chính quốc, Anh đã ra lệnh cấm Bắc Mĩ sản xuất nhiều loại hàng công nghiệp, cấm mở doanh nghiệp, thậm chí còn cấm cả việc đem máy móc và thợ lành nghề từ Anh sang và  không được tự do buôn bán trực tiếp với các nước khác. Anh nắm giữ độc quyền xuất – nhập khẩu ở 13 thuộc địa, dân thuộc địa phải mua hàng công nghiệp Anh, những mặt hàng chủ yếu của thuộc địa thì chỉ được phép bán sang chính quốc. Anh còn giữ cả độc quyền buôn bán nô lệ da đen đưa sang Bắc Mĩ.
     Những chính sách hạn chế nói trên đã làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của tư sản, chủ nô và các tầng lớp nhân dân thuộc địa. Tuy nhiên mọi lệnh cấm đoán đó hầu như không được thực hiện triệt để vì gặp phải sự chống đối của các cư dân thuộc địa, chúng chỉ làm cho mâu thuẫn giữa chính phủ Anh và 13 thuộc địa thêm sâu săc.


Hệ quả phát triển kinh tế của 13 bang thuộc địa Mỹ


     Nhìn chung, nền kinh tế công thương nghiệp của 13 thuộc địa phát triển nhanh, nhưng vẫn có tới 9/10 dân số sống bằng nghề nông. Ở 4 thuộc địa miền Trung, ruộng đất nằm trong tay các trại chủ và nông dân tự do. Đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho họ trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp để cung cấp cho các thành phố lớn và xuất khẩu. Tại 5 thuộc địa ở miền Nam, các chủ nô sử dụng sức lao động của nô lệ da đen để sản xuất nông phẩm, trồng cây công nghiệp (bông, thuốc lá, đay). Ở các thuộc địa phía Bắc, chủ nghĩa tư bản phát triển khá mạnh.

Hệ quả phát triển kinh tế của 13 bang thuộc địa Mỹ

     Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của 13 bang thuộc địa đã đưa đến những hệ quả lớn về kinh tế, chính trị, xã hội. Do yêu cầu của nội thương, sự liên lạc giữa các bang thuộc địa từ Bắc chí Nam ngày một được tăng cưởng và mở rộng. Nhiều đường lớn nối liền các bang được xây dựng, cầu sắt thay cho phà, hệ thống bưu điện được thiết lập rộng khắp. Thị trường thống nhất trong nước đang dần được hình thành.
     Giai cấp tư sản non trẻ của 13 thuộc địa đang tăng cường thế lực kinh tế, cạnh tranh với tư sản chính quốc. Chính sự phát triển của kinh tế và chính sách thống trị của chính quyền Anh đã làm nảy sinh và thúc đẩy sự phát triển của tinh thần dân tộc, đưa đến sự thai ngén của một dân tộc tư sản mới ở châu lục mới.
     Đồng thời cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nổ ra mạnh mẽ, bao gồm cuộc đấu tranh của tá điền chống địa chủ; của những tiểu nông chống thương nhân, cho vay lãi; của công nhân chống chủ công trường thủ công; chủ yếu của nô lệ chống chủ đồn điền. Nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang đã được tiến hành, như cuộc khởi nghĩa của nô lệ ở Niu Oóc năm 1712.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: hoc lich su

Tình hình kinh tế tại các nước thuộc địa


     Các thuộc địa miền Bắc và miền Trung thường kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, nhưng tại miền Trung, ruộng đất tập trung thành các trang viên lớn của đại địa chủ và quan lại triều đình Anh. Trong khi đó, ở miền Bắc, chế độ tư hữu nhỏ kiểu tư bản chủ nghĩa lại chiếm địa vị thống trị. Những người nông dân tư hữu nhỏ (trại chủ), thường tự lao động, khai khẩn một lô đất nhỏ, tạo thành trang trại, trồng các loại cây lương thực và chăn nuôi gia súc. Bên cạnh nông nghiệp, họ còn làm thêm cả nghề thủ công. Các trại chủ phải chịu thuế má nặng nề của chính quyền thực dân, bị thương nhân bắt bí khi mua nông phẩm, bị chế độ sở hữu ruộng đất lớn của đại địa chủ chi phối nên thường xuyên đứng trước nguy cơ bị phá sản. Khi bị bần cùng hoá, họ chạy về miền Tây rộng lớn, tiếp tục chiếm đất lập trang trại mới.

Tình hình kinh tế tại các nước thuộc địa

      Một số thợ thủ công, công nhân cũng chạy về miền Tây để chiếm đất. Khuynh hướng phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Mĩ đã được Lênin gọi là “con đường kiểu Mĩ”. Nhờ biện pháp chiếm đất tự do, nông dân Bắc Mĩ chống lại sự du nhập chế độ bóc lột phong kiến vào đây.
     Ở các bang thuộc địa miền Nam, chế độ sở hữu ruộng đất lớn chiếm vị trí chủ đạo, dưới hình thức các đồn điền lớn, sử dụng chủ yếu lao động nô lệ da đen. Vào khoảng giữa thế kỉ XVIII, tại Bắc Mĩ có khoảng 1 triệu nô lệ. Họ bị cưỡng bức làm việc, chịu nhiều hình phạt đã man. Kinh tế đồn điền ở đây, tuy dựa vào sức lao dộng của người nô lệ, nhưng lại gắn liền với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chế độ nô lệ đồn điển ở Bắc Mĩ khác hẳn về tính chất so với chế độ chiếm hữu nô lệ thời cổ đại, c. Mác nhận xét rằng, trong điều kiện lịch sử cụ thể của Bắc Mĩ, nhà tư bản và địa chủ thống nhất lại thành một nhân vật duy nhất là chủ nô.
Sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
     Đến giữa thế kỉ XVIII, kinh tế công – nông – thương nghiệp tư bản chủ nghĩa của 13 thuộc địa đã có sự khởi sắc.
     Nhờ có những điều kiện thuận lợi, như đất đai phì nhiêu, khí hậu đa dạng (ôn đới, cân nhiệt đới), tài nguyên thiên nhiên phong phú (quặng, rừng, thuốc lá, bông, lúa..), cộng thêm sự du nhập sớm của quan hệ sản xuất mới – tư bản chủ nghĩa – mà nền kinh tế của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ phát triển tương đối nhanh chóng. Các bang không những chỉ tự túc được nhu cầu lương thực, thực phẩm của mình, mà còn có thừa để xuất khẩu sang châu Âu, với số lượng ngày càng lớn, các mặt hàng như: ngũ cốc, súc vật, thuốc lá, rượu rum…
     Tại 4 thuộc địa miền Bắc đã xuất hiện nhiều công trưởng thủ công tư bản chủ nghĩa, dưới hai hình thức tập trang và phân tán, nằm rải rác dọc các miền ven biển, chuyên sản xuất rượu, làm bột, thuỷ tinh, luyện sắt… Phát triển mạnh nhất là ngành công nghiệp đóng tàu, nhờ tận dựng nguồn lợi thiên nhiên về gỗ khá phong phú (có tới 1/3 trọng tải của hạm đội Anh được đóng tại Bắc Mĩ). Cùng với sự phát triển của công nghiệp, nền thương nghiệp Bắc Mĩ cũng ngày một phát triển. Nhiều hàng hoá công nghiệp, nông phẩm được xuất khẩu sảng châu Âu và Đông Ấn Độ (các loại nông cụ, vũ khí, sắt, đồng, da thú quý, bát dĩa tráng men…). Giữa các thuộc địa cũng có sự trao đổi hàng hoá ngày càng nhộn nhịp, ví dụ hàng công nghiệp ở các bang miền Bắc được đem sang các bang miền Nam để đổi lấy các cây công nghiệp. Trở thành trung tâm công, thương nghiệp của các thuộc địa. Vì quyền lợi của thương nhân Anh, chính quyền thực dân còn khuyến khích việc buôn bán nô lệ da đen tại các hải cảng của Bắc Mĩ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: học lịch sử